Home Công nghệTin tức Lịch sử máy tính

Lịch sử máy tính

by hoang_tranyen

Năm 1642, máy tính cơ học đầu tiên đã được chế tạo bởi một người Pháp tên là Blaise Pas­cal. Máy gồm có tám đĩa số, mỗi đĩa số có các số từ 0 đến 9, và mỗi đĩa tương ứng với hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn, . . . Tuy nhiên máy này chỉ có thể cộng hoặc trừ. Phép nhân hoặc chia được thực hiện bằng cách lặp lại phép cộng hoặc trừ.

Năm 1671, nhà toán học người Đức bổ sung thêm tính năng nhân và chia. Tuy vậy, máy được cải tiến này cũng chỉ có thể thực hiện các phép toán số học.

Charles Babbage, nhà toán học người Anh ở thế kỷ 19, đã chế tạo một thiết bị được gọi là máy sai phân, cỏ thể tính một cách nhanh chóng và chính xác các hàm khác nhau, kể cả logarithm.

Năm 1804, J.M. Jacquard, một nhà cơ học Pháp, đã giới thiệu hệ thống thẻ đục lỗ để điều khiển các hoạt động của máy dệt. ở Mỹ, trong cuộc điều tra dân số năm 1890, Hermán Holler­ith đã trình bày cách sử dụng thẻ đục lỗ để ghi thông tin cá nhân như tuổi, giới tính, chủng tộc, và tình trạng hôn nhân (Hình 74-1). Thông tin được mã hỏa trên thẻ rồi đọc và lập thành bảng bằng các bộ cảm biến điện. Việc sử dụng các thẻ đục lỗ này dẫn đến sự phát triển các máy văn phòng đầu tiên trong việc lập bảng dữ liệu.

74.1

Vào thập niên 1930, một người Đức tên là Konrard Zuse đã chế tạo một máy tính đơn giản, dùng để tính nhiều thứ trong đó có các thiết kế cánh cho ngành công nghiệp máy bay của Đức.

Ở Mỹ vào năm 1939 một nhà toán học tên là George Stibitz đã chế tạo một thiết bị tương tự cho phòng thi nghiệm Bell Telephone Laborato­ries. Máy này có khả năng thực hiện sự tính toán qua các đường dây điện thoại, đến đây đă khai sinh máy xử lý dữ liệu từ xa đầu tiên.

Trong Chiến tranh thế giới thứ II, người Anh chế tạo một máy tính được gọi là Colossus I, giúp giải mã của quân đội Đức.

Các máy tính kỹ thuật số sớm nhất đã sử dụng các công tắc đóng-ngắt điện cơ hoặc rơle. Máy tính lớn đầu tiên là Mark I, được lắp ráp ở đại học Harvard do công ty IBM thực hiện, có thể nhân hai số có 23 chữ số trong khoảng 5 giây-một kỳ công vào thời kỳ đó, nhưng hết sức chậm so với các máy tính ngày nay.

Năm 1946, máy tính digital điện tử đầu tiên của thế giới là ENIAC (Electronic Numerical In­tegrating Automatic Computer Máy tính tự động tích hợp số điện tử) được chế tạo, chứa hơn 19000 đèn chân không, nặng xấp xỉ 30 tấn, và choán hơn 15000 ft2 mặt sàn. Đây là máy tính nhanh hơn nhiều-có thể cộng hai số trong vòng 1/5000 giây. Một máy có kích thước như vậy có nhiều vấn đề về vận hành, đặc biệt là với các đèn bị cháy đứt và hệ thống dây điện.

Năm 1947, lần đầu tiên transitor được sản xuất ở Bell Laboratories. Chúng được sử dụng như các công tắc để điều khiển dòng electron. Tran­sistor nhỏ hơn đèn chân không nhiều, ít hư hỏng hơn, tỏa nhiệt ít hơn, và giá thành thấp hơn nhiều. Các máy tính được lắp ráp sau đó dùng transis­tor, nhưng vấn đề về việc đặt hệ thống dây điện bằng tay vẫn còn. vấn đề này dẫn đến việc phát triển mạch in.

Cuối thập niên 1950, Kilby ở công ty Texas Instrument và Noyce ở công ty Fairchild đã phát hiện số lượng transistro bất kỳ cùng với các nối kết giữa chúng, có thể được khắc bằng acid lê’ một miếng silic nhỏ (khoảng 1/4×1/4×1/32 n Những chip này được gọi là mạch tích hợp (IC chứa toàn bộ các phần của máy tính, nhu mạch logic hoặc thanh ghi của bộ nhớ. Các ch p rày

đã được cải tiến xa hơn, và ngày nay hàng ngàn transisitor và mạch được đưa vào chip Silicon nhỏ xíu (Hình 74-2). Với chip cải tiến này chỉ còn vấn đề là ổn định mạch một cách chắc chắn và các chip đó chỉ có thể thực hiện các nhiệm vụ được thiết kế cho nó.

74.2

Năm 1971 công ty Intel Corporation đã sản xuất bộ vi xử lý-là một chip (vi mạch) chứa toàn thể bộ xử lý trung tâm (CPU) cho một máy tính đơn lẻ. Chip đơn này có thể được lập trình để thực hiện bất kỳ tác vụ nào, từ lái tàu không gian đến việc vận hành đồng hồ hoặc điều khiển các máy tính cá nhân.

 

Bài viết liên quan

Leave a Comment